Trang phục truyền thống các dân tộc thiểu số: Cần được bảo tồn và phát huy giá trị

Trong quan niệm thẩm mỹ của người Mông, vẻ đẹp của người phụ nữ được phản ánh một phần qua trang phục: “Muốn biết người tốt xem gác bếp, muốn hay người đẹp xem áo quần”. Vậy nên, một người phụ nữ được xem là đẹp trước hết phải là người khéo tay thêu thùa, dệt vải, may vá, đặc biệt là may đồ cưới. Nói cách khác, giỏi nghề dệt vải thêu hoa là một thước đo giá trị người phụ nữ Mông truyền thống. Có lẽ vì vậy mà so với nhiều dân tộc anh em cùng chung sống trên rẻo cao cách trở, trang phục của người phụ nữ Mông tương đối cầu kỳ. Một bộ trang phục cổ truyền sẽ gồm váy, áo xẻ ngực có yếm lưng, tấm vải che váy phía trước, thắt lưng và vuông vải nhỏ che lưng đằng sau, khăn quấn đầu, xà cạp...


Trang phục rực rỡ sắc màu của thiếu nữ Mông (huyện Mường Lát).

Chân váy có hình nón cụt, xếp nếp xòe rộng và thường xếp tới 50 nếp nên khi đi lại, váy thường đu đưa lượn sóng theo bước chân, giúp tôn thêm nét duyên dáng cho người mặc. Màu sắc thường được người Mông sử dụng khi trang trí trên vải và trang phục là màu đỏ. Bởi theo quan niệm của đồng bào, màu đỏ tượng trưng cho hạnh phúc, màu của ánh sáng mặt trời biểu tượng cho uy lực. Bên cạnh màu đỏ làm chủ đạo, người Mông cũng dùng nhiều màu sắc sặc sỡ như vàng, tím, xanh... để trang trí cho thêm phần sống động. Hoa văn trên trang phục phụ nữ cũng khá cầu kỳ, với phần cổ áo là một thảm thêu nhiều màu sắc nổi bật. Hoa văn được sử dụng nhiều là các hình chữ nhật, hình vuông, hình chữ thập, hình thoi, hình xoáy ốc và hoa lá. Ngoài ra, để tăng thêm vẻ đẹp cho trang phục, người Mông thích dùng nhiều trang sức bằng bạc như vòng cổ, vòng tay...

Bởi tập quán nhiều đời sống ở vùng núi cao, tương đối cách trở cho nên từ xưa, người Mông đã rất phát triển nghề trồng lanh, dệt vải. Song hiện nay, do việc đi lại và giao lưu kinh tế diễn ra tương đối thuận lợi, nhất là hàng hóa, vải vóc, quần áo không còn là mặt hàng khan hiếm. Vậy nên nghề trồng lanh, dệt vải của người Mông đã không còn đóng vai trò quan trọng trong đời sống đồng bào như trước đây. Đồng thời, những trang phục truyền thống dù vẫn giữ được kiểu dáng, nhưng chất liệu thì đã thay đổi nhiều và cơ bản là vải dệt công nghiệp. Cùng với đó, ở nhiều nơi và nhiều thời điểm, để thuận cho việc đi lại, lao động, đồng bào cũng chuyển sang mặc trang phục giống người Kinh. Chỉ những dịp đặc biệt như lễ tết, ma chay, đám cưới... thì trang phục truyền thống mới xuất hiện đầy đủ. Đồng thời, vải lanh chỉ thường thấy trong những dịp lễ đầu năm, khi thầy Mo dùng vải để “bắc cầu” lên thiên đình, mời Ngọc Hoàng xuống nghe tấu trình. Đây cũng được xem là cách để người Mông nhớ về tập quán cổ truyền của dân tộc mình.

Mỗi một dân tộc, tùy theo quan niệm về nhân sinh, về thế giới, về thẩm mỹ, về trình độ tay nghề... và chịu tác động từ các yếu tố khách quan của đời sống xã hội, nên trang phục của mỗi dân tộc sẽ có những đặc trưng riêng, nét đẹp riêng. Trang phục của các dân tộc thiểu số, ví như một rừng hoa rực rỡ màu sắc, mà mỗi bông hoa mang một nét riêng về sắc, về hương. Đó là một tín hiệu văn hóa lấp lánh, bởi qua trang phục, sự phong phú trong đời sống vật chất - tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số cũng được phản ánh sinh động. Tuy nhiên, đứng trước sự thay đổi của đời sống và sự giao lưu mạnh mẽ cả về kinh tế, văn hóa, đã và đang khiến cho tín hiệu văn hóa đặc sắc này, có nơi có lúc trở nên nhạt dần. Thậm chí, đứng trước nguy cơ mai một khi không còn xuất hiện thường xuyên trong đời sống sinh hoạt, lao động sản xuất hàng ngày của cộng đồng.

Huyện Bá Thước là nơi tập trung sinh sống của đồng bào Thái, Mường. Mới đây, địa phương đã tiến hành kiểm kê việc sử dụng trang phục truyền thống của 2 dân tộc này tại 9 xã/49 thôn; bao gồm các xã Ban Công 4 thôn, Thành Lâm 6 thôn, Cổ Lũng 7 thôn, Lũng Niêm 5 thôn, Điền Thượng 3 thôn, Điền Trung 6 thôn, Lương Nội 6 thôn, Lương Trung 5 thôn và Lương Ngoại 7 thôn. Với tổng số 92.520 người (dân tộc Thái 34.095 người; dân tộc Mường 58.425 người) tham gia kiểm kê và 14.770 loại bộ trang phục được kiểm kê (trong đó, có 4.106 bộ ngày thường; 5.983 bộ lễ tết; 4.681 bộ đám tang). Kết quả cho thấy, tại một số xã như Lũng Niêm, Cổ Lũng, Thành Lâm, Thành Sơn, người dân vẫn duy trì việc dệt thổ cẩm và may, mặc trang phục truyền thống. Ở một số xã còn lại, đang cho thấy nhiều khó khăn trong công tác bảo tồn và duy trì mặc trang phục truyền thống thường xuyên. Nguyên nhân được đưa ra để lý giải cho thực trạng này là sự kém tiện dụng của trang phục truyền thống đối với việc đi lại, sinh hoạt, sản xuất hàng ngày.

Sự thay đổi của chất liệu, kiểu dáng trang phục truyền thống; thậm chí là sự vắng bóng dần của trang phục truyền thống, dường như đã không còn là vấn đề của riêng một dân tộc hay một địa phương nào. Trong khi, sự biến mất hoàn toàn hoặc đánh mất đi vị thế của trang phục truyền trong đời sống, quả thật là điều vô cùng đáng tiếc. Để “cứu vãn” thực trạng đáng buồn trên, ngày 18-1-2019, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Quyết định số 209/QĐ-BVHTTDL về việc phê duyệt Đề án “Bảo tồn, phát huy trang phục truyền thống các dân tộc thiểu số Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”. Đề án hướng đến mục tiêu bảo tồn và phát huy trang phục truyền thống các dân tộc thiểu số đáp ứng yêu cầu “di sản văn hóa vừa là động lực, vừa là mục tiêu”, góp phần cho sự phát triển bền vững văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam. Đưa trang phục truyền thống phổ biến hơn trong cuộc sống đồng bào các dân tộc thiểu số, nâng cao lòng tự hào, ý thức bảo tồn và phát huy trang phục truyền thống các dân tộc.

Để thực hiện các mục tiêu của đề án, ngày 7-6-2019, UBND tỉnh Thanh Hóa đã ban hành Kế hoạch số 130/KH-UBND về việc triển khai thực hiện Đề án “Bảo tồn, phát huy trang phục truyền thống các dân tộc thiểu số Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 2019-2030. Trong đó, giai đoạn 2019-2025, sẽ tiến hành xây dựng dự án, triển khai tổng kiểm kê, lập danh mục di sản văn hóa phi vật thể về trang phục truyền thống các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh. Thực hiện bảo tồn, khôi phục và phát huy di sản văn hóa phi vật thể về trang phục truyền thống các dân tộc thiểu số, thông qua việc tổ chức Liên hoan trình diễn trang phục truyền thống các dân tộc thiểu số (trình diễn trang phục truyền thống, cách tân và người đẹp các dân tộc thiểu số); mở lớp tập huấn về phương pháp bảo tồn, kỹ năng và phát huy các giá trị di sản văn hóa phi vật thể liên quan đến nghề thủ công truyền thống, nghệ thuật thêu hoa văn liên quan đến trang phục truyền thống của các dân tộc thiểu số.

Cùng với đó, là đẩy mạnh công tác tuyên truyền về bảo tồn trang phục truyền thống dân tộc thiểu số bằng các hình thức phù hợp (trên các phương tiện truyền thông đại chúng, mạng xã hội...), giới thiệu về công tác bảo tồn, phát huy trang phục truyền thống các dân tộc. Tổ chức triển khai mặc trang phục truyền thống tại các trường dân tộc nội trú, học sinh là người dân tộc thiểu số thuộc các cấp học. Khuyến khích công chức, viên chức là người dân tộc thiểu số tại cơ quan, đơn vị, Nhà nước mặc trang phục truyền thống trong các ngày lễ, tết, hội... Ngoài ra, có cơ chế hỗ trợ giới thiệu và bán sản phẩm về trang phục truyền thống ở các tuyến, điểm du lịch nổi tiếng của tỉnh. Xây dựng, tham mưu cho UBND tỉnh ban hành cơ chế, chính sách cho các nghệ nhân, người tổ chức thực hành, trao truyền, bảo tồn và phát huy giá trị bản sắc văn hóa dân tộc nói chung và trang phục truyền thống các dân tộc thiểu số nói riêng trên cả nước...

Trang phục truyền thống gắn chặt với đời sống vật chất và tinh thần của các dân tộc. Do đó, để phổ biến loại hình trang phục này trong đời sống, thì không cách nào khác, phải bắt đầu từ ý thức, nhận thức, mong muốn của chính cộng đồng dân tộc ấy. Bên cạnh đó, cũng cần tìm ra hướng tiếp cận mới hơn cho vấn đề này, để trang phục truyền thống không đơn giản là bộ đồ mặc hàng ngày, mà còn trở thành một sản phẩm văn hóa phục vụ phát triển du lịch. Đây cũng là điều đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đề cập tại Quyết định 2774/QĐ-BVHTTDL ngày 2-10-2020, về việc “Tổ chức tuyên truyền, quảng bá và phát huy di sản văn hóa phi vật thể trang phục truyền thống các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch”. Trong đó nhấn mạnh việc quảng bá và phát huy di sản văn hóa phi vật thể trang phục truyền thống các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch, nhằm từng bước củng cố, cải thiện đời sống văn hóa tinh thần, phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Đồng thời, góp phần giữ gìn và lan tỏa nét đẹp văn hóa giản dị, gần gũi trong cuộc sống, sinh hoạt hàng ngày, thúc đẩy phát triển nghề thủ công truyền thống gắn với phát triển du lịch.

Khôi Nguyên (Nguồn BTH)

Album

Album videos