Làng cổ dưới chân Ngàn Nưa

Nép mình dưới dãy Ngàn Nưa, bên dòng Lãng giang êm đềm có một làng cổ tồn tại và phát triển từ bao đời mà dân gian vẫn thường gọi: Kẻ Nưa (xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn). Nơi đây không chỉ lưu giữ những bằng chứng về một vùng đất cổ lịch sử ngàn, vạn năm, mà còn có những giá trị văn hóa xa xưa qua thời gian vẫn được lưu giữ, trao truyền.

Dãy Ngàn Nưa kéo dài một dải như bức tường thành thiên phú ôm ấp phía nam đồng bằng sông Mã. Giữa trùng điệp núi non nối tiếp, đỉnh núi Nưa (Na Sơn) cao chót vót hơn 500m so với mực nước biển còn được gọi là núi Chúa. Từ trên đỉnh cao núi Nưa nhìn xuống, ngút ngàn tầm mắt là đồng bằng trù phú, xanh tươi mướt mát. Và giữa xanh tươi ấy là làng cổ Kẻ Nưa án ngữ dưới chân núi Nưa, điểm nhấn của bức tranh sơn thủy đa sắc.

Theo cách giải nghĩa của người dân bản địa thì Kẻ Nưa là từ chỉ vùng đất có truyền thống buôn bán sầm uất bậc nhất cả vùng. Từ xa xưa, nơi này vốn có tên đất “Cổ Na”, khi vua Lê Lợi lên ngôi đã cho đổi tên Cổ Na thành Cổ Ninh. Đến năm 1533, vua Lê Trang Tông lại cho đổi tên từ Cổ Ninh thành Cổ Định. Ngày nay, không nhiều người còn nhớ đến cái tên Kẻ Nưa, thay vào đó tên làng đã được đổi tên thành Tân Ninh năm 1946.
Căn cứ những cứ liệu khảo cổ, nhiều nhà nghiên cứu và chuyên gia đều chung nhận định vùng đất dưới chân núi Nưa có lịch sử phát triển từ thời Đồ Đá mới. Nơi đây còn gắn liền với cuộc dấy binh khởi nghĩa của nữ tướng Triệu Trinh Nương (Bà Triệu) ở thế kỷ thứ 3 khiến cho triều đình phong kiến đô hộ phương Bắc kinh khiếp... Và lẽ dĩ nhiên, cùng với sự hình thành của một vùng dân cư cổ xưa Kẻ Nưa đến ngày hôm nay, ta dễ dàng nhận ra những tầng lớp trầm tích văn hóa khi đặt chân lên mảnh đất này. Đó có thể là những di tích, danh thắng; phong tục tập quán hay đơn giản chỉ là phương ngữ cổ mà nếu không phải người địa phương thì thật khó để hiểu hết...
Tự bao đời nay, người dân Tân Ninh vẫn tự hào đây là nơi đất lành chim đậu, buôn bán sầm uất khắp cả một vùng Đông Nam đồng bằng sông Mã. Bởi lẽ, sở hữu vị trí đắc địa, nơi trung chuyển giữa miền núi (Như Xuân, Như Thanh) với các huyện đồng bằng; nơi giao lưu, gặp gỡ trao đổi sản vật của đồng bào các dân tộc Thái, Thổ, Mường với người Kinh. Chính sự thuận lợi trong giao thông đã giúp cho giao thương ở nơi này phát triển đến cực thịnh. Và qua thời gian, từ sự gặp gỡ, giao lưu trong đời sống kinh tế đã dần hình thành nên sự giao thoa văn hóa. Có lẽ bởi vậy, đến Tân Ninh ngày nay, ta vẫn cảm nhận được phần nào bên cạnh đặc trưng của cư dân nông nghiệp lúa nước nói chung là nét riêng của vùng đất đồi núi thấp với bóng dáng của đời sống văn hóa chốn kẻ chợ...
 chợ tết  Đình làng Đài xã Tân Ninh.jpg
Chợ quê truyền thống đình làng Đài xã Tân Ninh.
Không chỉ là trung tâm phát triển kinh tế - xã hội của cả vùng, người dân làng cổ Kẻ Nưa xưa nay còn tự hào về truyền thống thi thư, khoa cử. Trong lịch sử phát triển của các triều đại phong kiến nước Việt, đã có 24 tiến sĩ đến từ vùng đất Kẻ Nưa ghi tên mình trên bảng vàng khoa cử. Đặc biệt, dưới thời nhà Lý, cả hai sứ giả đi sứ nhà Tống của nước Việt là Doãn Anh Khải và Doãn Tử Tư đều xuất thân từ đất Kẻ Nưa. Ngày nay, công trạng của hai vị sứ tài năng, đức độ vẫn được người dân vùng đất cổ ghi nhớ và nhắc nhở cho cháu con noi theo.
Xuyên suốt lịch sử phát triển của làng cổ Kẻ Nưa là dấu tích của vô số những giá trị văn hóa còn được lưu giữ. Nếu xứ Thanh nổi danh cả nước với số lượng hơn 1.500 di tích thì Kẻ Nưa có lẽ cũng được xem là địa chỉ di tích với trên 20 di tích đã được kiểm kê, trong đó có 10 di tích đã được xếp hạng. Và hai trong số đó là di tích xếp hạng cấp quốc gia: Cụm di tích đền Nưa - Am Tiên - Ngàn Nưa nổi danh cả nước với lễ hội mở cổng trời mỗi dịp tết đến, xuân về thu hút hàng vạn lượt du khách về dâng hương, vãn cảnh; đền thờ Hoàng giáp Lê Bật Tứ. Bên cạnh đó là các di tích lịch sử, văn hóa, kiến trúc nghệ thuật độc đáo, giá trị: Nghè Giáp (đền thờ Trần Khát Chân); chùa Giếng Quán; chùa Lê; đình làng Hạ; đình làng Đài...
 di tích nghè Giáp xã Tân Ninh.JPG
Di tích lịch sử nghè Giáp (đền thờ Trần Khát Chân) xã Tân Ninh.
Đặc biệt là hệ thống nhà gỗ cổ Kẻ Nưa với lịch sử trên dưới trăm năm hiện còn được lưu giữ. Về Kẻ Nưa, nếu không ghé thăm nhà cổ nơi đây có lẽ sẽ là một điều đáng tiếc. Những căn nhà gỗ cổ in đậm dấu ấn thời gian trên từng nét hoa văn, chạm trổ thủ công nhưng vô cùng tinh tế. Dưới những mái nhà là câu chuyện về truyền thống tư gia, làng quê, khoa bảng. Nhà gỗ cổ Kẻ Nưa không chỉ nhiều về số lượng mà còn đa dạng về mẫu mã. Anh Lê Thanh Sơn, cán bộ Văn hóa xã Tân Ninh cho biết: “Trên địa bàn toàn xã hiện còn lưu giữ khoảng 40 căn nhà gỗ cổ với niên đại trên dưới trăm năm. Các căn nhà gỗ cổ phần đa đều được làm từ các loại gỗ quý hiếm (lim, táu...). Nhìn bề ngoài tuy đơn giản song mỗi căn nhà cổ còn tồn tại đến ngày nay chính là tâm huyết, niềm tự hào của thế hệ cha ông. Bởi để dựng lên được những căn nhà gỗ như vậy thực sự không phải điều dễ dàng. Lợi thế nơi cửa rừng cùng tâm lý ganh đua, chăm chỉ, cố gắng của người dân Kẻ Nưa xưa kia đã để lại di sản nhà gỗ cổ cho thế hệ cháu con hôm nay...”. Không chỉ vậy, được biết trong kháng chiến chống Mỹ, những căn nhà gỗ ở Kẻ Nưa còn được Nhà nước trưng dụng làm kho chứa quân lương phục vụ quân đội. Bởi vậy, dưới những mái ngói rêu phong của nhà gỗ cổ Kẻ Nưa đâu đơn thuần chỉ là hệ thống cột, xà, ruôi, mè nhuốm màu thời gian, ở đó còn là kỷ niệm.
Kẻ Nưa còn cổ xưa bởi hệ thống từ vựng không kém phần độc đáo. Nếu đến đây, nghe ai đó than rằng “đau chốc quá” thì bạn sẽ hiểu rằng họ đang kêu đau đầu. Tương tự, cái lưỡi được gọi là lãn; bắp đùi là cổ bả; con trâu là tru; chị em gái gọi là chị em cấy... rất nhiều từ cổ khác mà nếu có nghe lần đầu thì người nghe chớ vội ngỡ ngàng hay cười cợt. Hay như tên làng cũng được đặt theo can: làng Giáp; Ất; Bính; Đinh; Mậu... Với người dân Kẻ Nưa nói riêng, ngôn ngữ, tên gọi đó có từ thời xa xưa, cha ông để lại và mỗi người có trách nhiệm duy trì, gìn giữ, tạo nên nét riêng biệt giữa dòng chung văn hóa vùng miền xứ Thanh và cả nước.
Thu Trang

Album

Album videos