Khám phá không gian văn hóa vùng biển xứ Thanh (Bài 2): Diêm Phố và những tín ngưỡng tâm linh đặc sắc

Khám phá không gian văn hóa vùng biển xứ Thanh (Bài 1): Cửa Thần Phù và truyền thuyết nơi đảo hoang

Không phải huyện ven biển duy nhất ở xứ Thanh nhưng Hậu Lộc chứa đựng trong mình một không gian văn hóa biển vô cùng đặc trưng. Hệ thống di tích, lễ hội và cả nếp sống duy trì tự ngàn đời của ngư dân...tất cả đã tạo nên một sắc thái “Diêm Phố” không thể lẫn lộn, nổi tiếng khắp xa, gần. Là những Ngư Lộc, Minh Lộc, Hải Lộc, Đa Lộc... với ngàn đời những thế hệ vẫn đang bám biển mưu sinh.

Năm 1973, sự kiện phát hiện di chỉ Hoa Lộc với nền văn hóa Hoa Lộc niên đại ngày nay hơn 4000 năm đã góp phần củng cố khẳng định sự xuất hiện từ rất sớm của con người ở vùng biển Hậu Lộc. Nương theo tạo hóa, dựa vào thiên nhiên, con người đã dần tiến gần đến bờ biển để mưu sinh, lập làng, dựng xây cuộc sống. Để đến hôm nay, dù đơn vị hành chính có thể đã được chia tách, song ở đấy vẫn là những cộng đồng quần cư với kinh nghiệm nghề biển được truyền đời.
Được mệnh danh là một trong những làng biển đặc trưng nhất cả nước, Diêm Phố (nay là xã Ngư Lộc) ví như người đàn bà từng trải: nhọc nhằn, đau thương đấy nhưng vẫn căng tràn khát vọng sống. Và ở Diêm Phố hôm nay, nhịp sống hối hả, nhộn nhịp như cuốn con người vào những bận bịu mưu sinh. Dẫu vậy, người dân Diêm Phố vẫn thu xếp cho mình những khoảng lặng nghỉ ngơi để hướng lòng mình về với niềm tin tín ngưỡng của tiên tổ. Đó dường như cũng là cách mà các thế hệ người dân Diêm Phố đã cùng sống, tồn tại trước giông bão biển cả.
 Cụm di tích Nghè-chùa-phủ-miếu Diêm Phố.JPG
Cụm di tích Nghè-chùa-phủ-miếu Diêm Phố là nơi để người dân vùng biển Ngư Lộc nói riêng và du khách gửi gắm niềm tin tín ngưỡng.
Chưa có khẳng định chính xác về tên gọi cũng như lịch sử hình thành của làng biển Diêm Phố. Song chắc chắn, sự xuất hiện của tên gọi địa danh có mối liên hệ mật thiết với nghề làm muối truyền thống của cư dân. Diêm Phố hôm nay chạy dài theo con đường đê ven biển. Nhà cửa chen chúc từ ngõ nhỏ ra đường lớn khiến cho không gian sống có phần ngột ngạt. Dù có diện tích chỉ khoảng nửa km2 song dân số Ngư Lộc lên đến trên 17 nghìn người (năm 2015). Điều này khiến cho nơi đây trở thành một trong những địa phương có mật độ dân cư cao nhất cả nước. Người ta tự hỏi, tại sao người dân biển Diêm Phố lại quần cư tập trung đông đến như vậy? Là bởi, nối tiếp những thế hệ đi trước, ngư dân Diêm Phố vẫn sống, mưu sinh dựa vào biển. Từ đứa trẻ mới sinh hay bậc phụ lão, có ai sinh ra ở vùng đất này mà không nặng lòng với biển. Như đồng bào Mông thấy “mỏi” chân khi bước đi dưới bình lưu đồng bằng, người Diêm Phố dường như cũng vậy, cuộc sống của họ nếu phải mưu sinh bằng một nghề nào khác, đó chắc chắn là sự thay đổi không dễ dàng. Vậy nên, dù làm công việc không giống nhau: đánh bắt, nuôi trồng, chế biến thủy hải sản đến cung ứng vật tư, ngư lưới cụ... thì rốt cuộc, vòng tròn kết nối chính là nghề biển truyền thống.
Từ trên trục đường chính, làng Diêm Phố nhìn về phía Đông, san sát những tàu thuyền và phương tiện đánh bắt hải sản của ngư dân trở về neo đậu nơi bến bãi. Ngoài kia, vẫn là trùng khơi sóng giữ, vậy nhưng ở nơi này, với ngư dân lại chính là chốn bình yên. Cảnh bán, mua hải sản tấp nập ở chợ Diêm Phố dưới tiết trời ngày hạ ngay gần bến tầu tạo nên một mùi vị thật đặc biệt. Vị tanh nồng của tôm cá, mực... xen lẫn vị mặn mòi từ gió biển, sóng biển phả vào không gian, thấm vào cơ thể của cả người dân lẫn du khách khiến ai chưa quen đó khẽ nhíu mày. Rồi cách người ta trao đổi, mua bán hàng hóa với những thanh âm đặc trưng không thể lẫn. Người dân biển thẳng thắn, dứt khoát đôi khi thô cứng và quyết liệt. Phải chăng, là vì cuộc sống vốn bị bủa vây bởi những bất thường, đối diện với không ít hiểm nguy, bất trắc. Chỉ một trận cuồng phong của mẹ thiên nhiên cũng có thể khiến cho bao thân phận ngư dân bị ném vào lòng đại dương, để lại nỗi đau vọng phu, phụ mẫu cho người còn sống. Nỗi đau nối tiếp nỗi đau, cảm xúc con người vì thế mà cũng trở nên chai sạn, dần trở thành tính cách người dân biển.
Tuy nhiên, cư dân vùng biển Hậu Lộc lại có đời sống văn hóa tinh thần, tín ngưỡng tâm linh chứa đựng nhiều giá trị được truyền đời.
 lễ hội Cầu Ngư.JPG
Di sản văn hóa phi vật thể lễ hội Cầu Ngư xã Ngư Lộc đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần người dân vùng biển.
Về Ngư Lộc trong dịp diễn ra lễ hội Cầu Ngư, chúng ta sẽ có điều kiện để hiểu và cảm nhận rõ nhất tính cách và nếp sống của con người nơi đây.  Theo đó, vào tháng 2 âm lịch hàng năm, bất kể tầu thuyền đã căng buồm vươn khơi hay vẫn còn neo đậu nơi bến bãi thì tất cả đều cùng nhau gác lại mọi công việc chuẩn bị cho lễ hội Cầu Ngư (cầu mát). Người dân biển Hậu Lộc tin rằng lễ hội là dịp để cộng đồng dân cư khẩn nguyện thần linh phù hộ, giúp đỡ: cầu cho khởi đầu năm mới vươn khơi bám biển bình an, may mắn, lộc biển đầy khoang, vượt qua hoạn nạn, đời sống no đủ, ấm êm. Cùng với những nghi lễ truyền thống thì người dân Ngư Lộc còn trực tiếp làm thuyền Long Châu khổng lồ vô cùng lộng lẫy. Thuyền Long Châu dài hàng chục mét với nguyên liệu tre và giấy. Thuyền được xem là vật lễ tế thần linh nên những người được chọn lựa làm thuyền phải có kinh nghiệm và sự cẩn trọng. Bên cạnh rước kiệu, tế lễ, thuyền Long Châu được hóa ngay bên bờ biển trước sự chứng kiến của nhân dân, du khách trong niềm hân hoan cùng những khát vọng. Trải qua thời gian, lễ hội Cầu Ngư không chỉ là nét đẹp tín ngưỡng của người dân làm nghề biển, nó hấp dẫn và thu hút cả người dân các địa phương trong và ngoài tỉnh, trở thành một sự kiện văn hóa. Lễ hội Cầu Ngư còn sôi động hơn với những trò chơi mô phỏng nghề biển: hát ghẹo, đua thuyền, câu mực... Năm 2018, UBND huyện Hậu Lộc đã tổ chức đón nhận bằng công nhận Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia đối với lễ hội Cầu Ngư. Đây thực sự là niềm tự hào cho những nỗ lực gìn giữ nét văn hóa truyền thống của nhân dân vùng biển Hậu Lộc nói chung, xã Ngư Lộc nói riêng.
Nhưng lễ hội Cầu Ngư không phải là thực thể tồn tại tách biệt, đơn lập. Di sản văn hóa phi vật thể của người dân biển Hậu Lộc nằm trong mối liên hệ khăng khít cùng hệ thống di tích, tín ngưỡng khác tại vùng biển nơi đây: cụm di tích Nghè-chùa-phủ-miếu Diêm Phố, bao gồm nghè Thánh Cả và Bản thổ thần; chùa Liên Hoa; đền Đức Ông và miếu thờ 344 người. Tất cả các di tích đều tọa lạc trên một hệ thống khuôn viên rộng khoảng 1000m2, cổng chính hướng nhìn ra biển.
Mỗi di tích lại có truyền thuyết lịch sử và gốc tích khác nhau: nghè Thánh Cả còn gọi là đền thờ Tứ vị Thánh nương là sự tôn vinh của ngư dân dành cho bốn vị thánh (người Trung Quốc). Họ cầu mong đức Thánh Cả sẽ phù trợ, giúp đỡ nhân dân trên biển, vượt qua sóng dữ;
Còn đền Đức Ông lại là sự tôn kinh mà người dân dành cho cá voi. Như bất cứ cộng đồng dân cư làm nghề biển, cá voi được xem là linh vật, người bạn thân thiết giúp đỡ người đi biển vượt qua hiểm nguy. Bởi vậy, ngư dân không bao giờ bắt cá, nếu cá chẳng may chết trôi dạt vào bờ thì cũng được chôn cất cẩn thận. Có giả thuyết được người dân Ngư Lộc truyền nhau: ở đền Đức Ông hôm nay vẫn còn lưu giữ bộ xương cá voi khổng lồ. Qua thời gian và thăng trầm lịch sử, đền Đức Ông đã có ít nhiều thay đổi. Điều đáng quý, tại di tích hiện vẫn còn lưu giữ một số sắc phong thời Nguyễn.
Với người dân biển Ngư Lộc, trận bão tố kinh hoàng năm 1931 vẫn là nỗi ám ảnh vô cùng khủng khiếp. Không chỉ càn quét làng mạc, cơn giận dữ của mẹ thiên nhiên còn cướp đi sinh mệnh 344 ngư dân xuống lòng đại dương. Trận cuồng phong đi qua, để lại nỗi đau và tang tóc bao phủ cả làng quê. Thương xót những sinh mệnh xấu số, người dân Diêm Phố sau đó đã lập miếu thờ tưởng nhớ nằm trong khuôn viên di tích Diêm Phố. Và 18/8 (âm lịch) hàng năm cũng được xem là dân làng làm lễ giỗ chung cho 344 ngư dân tử nạn.
Cùng với tín ngưỡng tâm linh ở cụm di tích Diêm Phố thì ở Ngư Lộc còn có một di tích đóng vai trò quan trọng đối với người đi biển: đền thờ Đức vua Thông Thủy đảo Nẹ Sơn nằm trên đảo Nẹ (cách đất liền Ngư Lộc khoảng 5 km). Theo sách Đại Nam nhất thống chí “vào thời xa xưa ngoài cửa biển Y Bích thuộc huyện Hậu Lộc nổi lên một hòn đảo có ngọn núi cao vút, thuyền bè qua lại hay đi đánh bắt qua lại trông thấy mà biết cửa biển Y Bích và bến đỗ của thuyền”, về sau nhân dân trong làng đặt tên cho nơi đây là đảo Nẹ Sơn. Tương truyền, đảo Nẹ Sơn xưa kia khá rộng, có một hang sâu trên đảo. Một ngày kia, ngư dân đi biển tình cờ phát hiện thấy thi thể người đàn ông nơi đây. Thương xót cho số phận bất hạnh, họ đã cùng nhau đắp cho ông nấm mồ và mỗi khi có việc qua lại thường dừng thuyền lên đảo thắp hương. Chẳng biết trùng hợp hay sự linh ứng, ngư dân nhận ra những chuyến vươn khơi dường như may mắn, thuận lợi hơn. Cho rằng, đó là vị thần nhà trời được phái xuống nhằm giúp đỡ người đi biển. Vì vậy, họ đã cùng nhau lập đền, hương khói phụng thờ. Bắt đầu cho mỗi chuyến đi, tầu thuyền đều qua di tích trên đảo Nẹ dâng hương, cầu xin may mắn. Với sức mạnh và tầm ảnh hưởng của mình trong đời sống nhân dân, thần Nẹ Sơn từng được vua triều Nguyễn sắc phong Thượng đẳng thần. Và trong lễ hội Cầu Ngư, kiệu thần Nẹ Sơn được trang trọng rước vào đất liền để cùng tham gia lễ hội.
Nét đẹp tín ngưỡng tâm linh của cộng đồng dân cư vùng biển Diêm Phố đan xen bởi những truyền thuyết huyền ảo và niềm tin có phần kì bí. Thật khó để đưa ra lời lý giải cho sự phối thờ các vị thần trong đời sống tâm linh của người dân biển Hậu Lộc nói chung, ngư dân Diêm Phố nói riêng. Nhưng, ở góc độ nhân sinh, phải chăng các thế hệ người dân biển hiểu rằng, mưu sinh dựa vào biển cả vốn không phải sự dễ dàng. Tín ngưỡng tâm linh suy cho cùng cũng chính là khát vọng được chung sống hòa bình với thiên nhiên, vạn vật trong vũ trụ của loài người.
Thu Trang

Album

Album videos