Cuộc hành hương về nơi lưu giữ tâm thức người Việt

http://baothanhhoa.vn/files/images/normal/5895cba6_1486212006.jpg
Lễ hội Quang Trung (xã Quảng Nham, huyện Quảng Xương).
Mùa xuân được tạo hóa ban tặng thứ quyền năng đặc biệt: Mùa của sự sinh sôi. Bởi vậy, đó là mùa của bản giao hưởng sự sống đương độ thăng hoa, dào dạt nhất và lòng người cũng theo sự biến chuyển của đất trời mà trở nên hứng khởi, phấn chấn. Mang theo tâm trạng ấy, người ta hòa mình vào xuân, vào những lễ hội xuân như một con đường tìm về nơi lưu giữ và trao truyền các giá trị tâm linh, tâm thức người Việt.
Những ngày đầu năm mới, thay cho mưa bụi phủ kín và cái rét thấm vào da thịt, là nắng vàng rải sắc mật ong lên vạn vật. Trong tiết xuân phơi phới, người ta lại chen chân theo dòng người trẩy hội chùa, hội đền. Trải lòng chốn cửa phật, cửa thánh trong không gian phảng phất khói hương, với  lòng thành kính cầu cho cuộc sống an lành, mong cho tinh thần và tâm hồn được thanh thản, thoát khỏi những ràng buộc thói thường. Tiết xuân trong lành càng thôi thúc khách thập phương tìm về Phủ Na (xã Xuân Du, Như Thanh) dâng hương, vãn cảnh. Phủ Na nổi tiếng cả nước nhờ bởi sự linh thiêng của hệ thống nhân vật được thờ tự, mà nổi tiếng hơn cả là Nhụy Kiều tướng quân Triệu Thị Trinh, đức ông Triệu Quốc Đạt, “tứ bất tử” Liễu Hạnh công chúa, Thượng Ngàn công chúa con thần Tản Viên... Tín ngưỡng thờ cúng nhân thần, thiên thần từ xa xưa đã thấm sâu vào đời sống tâm linh, tinh thần người Việt, với sức sống mãnh liệt và bền chặt. Tín ngưỡng ấy hướng con người thực hành điều thiện, từ bi bác ái, biết yêu thương và khoan dung. Không những thế “Na Sơn động phủ” từ xưa đã được biết đến như một thắng tích trời ban, bởi vẻ đẹp kỳ ảo. Những đình đền miếu mạo uy nghiêm nằm chênh vênh giữa tầng tầng, lớp lớp núi non. Cảnh trí thâm u và tĩnh tại được điểm xuyết bằng mạch nước ngầm trong vắt chảy ra từ lòng đá, mà dân gian vẫn truyền tụng là nước lành. Để rồi, khách trẩy hội Phủ Na ai cũng mong được một lần rước nước lành như rước lấy điềm may mắn cả năm. 
Không biết tự bao giờ, dân gian xứ Thanh đã truyền tai câu “Mẹ Phủ Na cha Độc Cước” nhắc nhau đã lên non là phải về biển. Để rồi, sau những chuyến hành hương về với mẹ Thượng Ngàn, người ta lại tìm đến không khí náo nhiệt của những lễ hội mặn mòi vị biển, hừng hực tinh thần lao động và khí thế hào sảng của cư dân ngư nghiệp. Di tích lịch sử văn hóa đền Phúc và bia Tây Sơn (xã Quảng Nham, Quảng Xương) đặc biệt náo nhiệt những ngày đầu xuân. Di tích này được ví như một chứng tích về lịch sử hình thành của mảnh đất nhỏ bé nơi đầu sóng, cũng là nơi nhắc nhở cháu con không bao giờ được quên cội nguồn. Cũng bởi vậy, từ giữa tháng chạp sang giữa tháng giêng được xem là thời gian hội hè, đình đám của người dân Quảng Nham. Đặc biệt, mùng 5 tháng giêng diễn ra chính hội Tây Sơn, cũng là lễ hội lớn nhất trong vùng. Cuộc hành quân thần tốc của nghĩa quân Tây Sơn và các trận đánh lớn Ngọc Hồi, Đống Đa, Thăng Long do người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ lãnh đạo, được tái hiện hết sức sinh động là cách người dân tỏ lòng thành kính, ngưỡng vọng đấng tiền nhân. Đồng thời, với nhiều hoạt động đặc sắc như bơi chải, nấu cơm thi, hát giao duyên cửa đình... lễ hội Tây Sơn cũng là nơi cư dân ngư nghiệp trình diễn và phô bày những nét văn hóa riêng có, được đúc kết từ đời sống tinh thần, tâm linh và sinh hoạt hằng ngày đặc trưng làng biển. Đó cũng là cách để con người gìn giữ, phát huy, trao truyền và khơi dậy niềm tự hào cho lớp cháu con về vùng đất dẫu còn lắm gian khó nhưng luôn nặng nghĩa tình.
Thanh Hóa là xứ sở của lễ hội, khi có hơn 200 lễ hội lịch sử, tín ngưỡng, tôn giáo, mà mỗi lễ hội tái hiện một sự kiện lịch sử hay một huyền tích dã sử được người đời truyền tụng. Theo guồng quay mùa màng, khi mùa xuân bắt đầu một chu kỳ mới trong đời sống cư dân nông nghiệp, cũng là mùa mở hội. Từ miền núi, trung du, xuống đồng bằng và ra miền biển, tùy theo phương thức lao động sản xuất mà các lễ hội lại có nét riêng, độc đáo, đặc trưng vùng, miền. Mùa xuân là lúc người Mông mở hội Gàu Tào mừng lúa đầy rẫy, ngô đầy nhà; các chàng trai cô gái Thái rủ nhau vào hội Nàng Han, chơi núi, chơi hang, ném còn, khua luống; người Mường, người Thổ mở hội Khai Hạ xuống đồng cầu cho mùa màng tươi tốt, cuộc sống đủ đầy; cư dân vùng cửa biển Lạch Bạng, Lạch Trường mở hội Cầu Ngư mong những chuyến vươn khơi sóng yên bể lặng, cá tôm đầy thuyền... Dù mang yếu tố lịch sử, tín ngưỡng, tôn giáo hay liên quan đến tập quán sản xuất nông, ngư nghiệp, thì mỗi lễ hội đều không tách rời bản chất văn hóa của nó. Như khẳng định của một nhà nghiên cứu văn hóa, thì lễ hội là một bảo tàng văn hóa - thứ bảo tàng tâm thức lưu giữ các giá trị văn hóa, các sinh hoạt văn hóa của con người. Bởi vậy mới nói, văn hóa làm nên sức sống và giá trị của lễ hội. Cho nên, trẩy hội là cách con người thực hành văn hóa, hưởng thụ văn hóa và ở một khía cạnh khó lý giải, dường như mỗi người còn được khoác thêm “tấm áo văn hóa” như một sự “định vị” giá trị bản thân trong cộng đồng. 
Lễ hội và trẩy hội xuân, từ xưa đã trở thành nếp sinh hoạt, thành phong tục đẹp của đời sống tinh thần, tâm linh con người, góp phần làm phong phú thêm bức tranh văn hóa Việt Nam đa sắc màu. Cùng với sự cải thiện và nâng cao của đời sống vật chất, nhu cầu hưởng thụ văn hóa cũng không ngừng gia tăng. Theo đó, việc bảo tồn, khôi phục các lễ hội truyền thống và hình thành các lễ hội mới là nhằm đáp ứng yêu cầu chính đáng ấy. Tuy nhiên, thực trạng tổ chức, quản lý và nhất là ý thức của người tham gia lễ hội hiện nay đang đặt ra không ít vấn đề làm đau đầu nhà quản lý và khiến những người có tâm thấy băn khoăn, thậm chí chán nản. Vẫn là những chuyện cũ đến mức đã trở nên bình thường ở không ít lễ hội. Người ta vô tư xả rác hay giắt tiền lẻ khắp nơi như là cách thể hiện lòng thành dưới chân phật thánh. Bên ngoài các di tích văn hóa vẫn không thiếu những hành động trái văn hóa, thuần phong mỹ tục như bói toán, rút quẻ, vui chơi có thưởng, ăn xin, trộm cắp... Nơi cửa đền, cửa phủ linh thiêng hẳn không mấy ai thiếu thành tâm. Nhưng thành tâm kiểu thuê người kêu thay bái đỡ cho “đúng bài”, quả thật “khó đỡ”. Rồi thì cái cảnh kẻ đứng, người ngồi với đủ can to, chai nhỏ chờ  hứng nước lộc, nước thánh ở Phủ Na, Am Tiên khiến nhiều người không khỏi ngao ngán rằng, liệu đó có phải là biểu hiện của niềm tin tín ngưỡng đơn thuần tốt đẹp hay là hành vi của niềm tin phàm tục mù quáng?
Người ta chen vai thích cánh, thậm chí là chen lấn xô đẩy, dẫm lên chân nhau trong những lối đi hẹp đã trở nên quá tải. Tiếng lầm rầm khấn vái, cầu xin xen lẫn tiếng trách móc, hằn học vì hơn kém một bước chân, một chỗ đứng hay chỗ đặt lễ trên ban thờ. Thành thử, việc đi đền, đi chùa, lễ phật lễ thánh cầu được an lạc, nhưng bản thân lại chẳng thể rũ được tham, sân, si. Cầu cho danh vọng đủ đầy, hoan lộ hanh thông nên vàng mã cũng được đốt thừa mứa, lễ lạt đuề huề. Cảm giác như, mọi sự hỉ, nộ, ái, ố đều được phô bày hết ở nơi mà lẽ ra chỉ cần sự thanh thản. Văn hóa từ con người mà ra và chính con người cũng cắm rễ sâu trong văn hóa. Thế nhưng, thay vì để những nét văn hóa tốt đẹp làm đẹp hơn đời sống, thì không ít người đang tự biến bản thân thành nạn nhân của những hủ tục do chính mình sinh ra. Những “góc tối” của lễ hội hay sự lệch chuẩn văn hóa từ chính nơi nuôi dưỡng văn hóa đang âm ỉ gặm nhấm những giá trị nhân văn tốt đẹp. Để rồi, câu chuyện về văn hóa lễ hội sẽ còn gút mắc ở thái độ và cung cách con người ứng xử với vốn văn hóa ấy.
.Bài và ảnh: Lê Dung (Theo:THO)
 

Album

Album videos